Thi công

19-Công tác xây gạch,xây cầu kiện

 

Kỹ thuật xây gạch

Cấu tạo khôi xây gạch

1.1. Định nghĩa và phân loại

Khối xây gạch là kết cấu lắp ráp hoặc tổ hợp cấc viên gạch (đơn vị khối xây) theo hình thức xếp chồng lèn nhau thành từng hàng, liên kết với nhau bằng vữa hoặc vât liệu xi mãng.

Phân loại khối xây

Trong xây dựng công trình, người ta dùng nhiểu loại khối xây.

Theo vật liệu ta có:

Khối xây bằng gạch: gạch đất sét nung, gạch silicát, gạch bê tông, hỗn hợp gạch nung và đá,...

Khối xây bằng đá: đá hộc, đá dẽo, đá kiểu.

Theo loại gạch sử dụng chia ra:

Khối xây bằng gạch đặc: làm kết cấu chịu lực.

Khối xây bằng gạch rỗng: làm kết cấu bao che, ngăn cách hoặc cách âm, cách nhiệt.


cốt cao độ của sàn tại các góc phòng, quyết định cốt nền sàn tầng đó. Với nhà khung trước khi xây tường cần đưa cốt sàn lên cao 0,5m hay 1m rồi dùng ống thủy bình dẫn đến các cột và đánh dấu bằng sơn đỏ với ký hiệu tam giác cân đặt ngược trên có ghi chiều cao dẫn.

Theo cấu tạo khối xây chia ra:

Khối xây đặc: trong đó không có những khoảng trống giữa các viên gạch: khối xây móng, trụ, tường chịu lực,...

Khối xây nhiều lớp: cấu tạo bởi hai hay nhiểu lớp bằng những vật liệu khác nhau (ví dụ: khối xây bằng gạch bẻ tông và ốp ngoài bằng khối xây gạch gốm).

Khối xây bọc ngoài kết cấu bẻ tông cốt thép hay kết cấu thép (thường là các cột) để bảo vệ hay làm tăng kích thước kết câu nhẳm mục đích tạo hình khối kiến trúc cho công trình.

Khôi xây rỗng: cấu tạo bởi hai hay nhiểu độ dày (lớp) làm bằng vật liệu giông nhau hay khác nhau với lớp không khí hay lớp nhồi bằng các vật liệu cách nhiệt ở giữa. Tính toàn khối (khả năng không bị rờí ra thành những phần riêng rẽ) của khối xây được đảm bảo bởi lực dính giữa gạch đá, vữa; gạch đá xếp mạch so le trong những hàng nằm ngang; hay bởi các thanh thép đường kính 4,8mm hoặc thanh giằng kim loại có độ cứng tương đương gắn vào trong các mối nối ngang.

Theo chiều dày khối xây phân ra:

Khối xây — viên gạch (60mm): đặt gạch nghiêng.

Khới xây — viên gạch (100): đặt gạch nằm dọc

Khối xây 1 viên gạch (220): đặt gạch nằm ngang hoặc bởi hai dãy gạch đặt dọc .

Khối xây 1 — gạch (330): hợp bởi mởt dãy gạch đật dọc và môi dãy gạch

đặt ngang .

Chiều dày của khối xây có thể tăng lên nữa.

Theo cách thức thi công:

Khối xây được thực hiện bằng cách xây từng viên gạch một. Liên kết giữa các viên gạch trong khối xây là các viên đật so le nhau, các hàng gạch ngang và vữa.

Khối xây được thực hiện bằng cách xếp gạch hay đá với mục đích tạo hoa văn hay tạo hình khối kiến trúc. Việc xếp đá nhỏ chèn chật giữa các viên đá to vừa có tác dụng tạo ra các họa tiết trang trí vừa làm tăng độ đặc chắc của khối xếp . Những khối đá to được đẽo gọt k1 và xếp chồng lên nhau đã tạo ra được những hiệu quả đặc biệt như nhà hất thành phố Aguascaliames, Mexico.

 

Phân loại mạch vữa:

Mạch vữa có nhiệm vụ lấp đầy các mối nối giữa các viên gạch trong khối xây. Trong một khối xây có mạch vữa ngang và mạch vữa đứng.

Mạch vữa ngang liên kết các hàng gạch với nhau. Với tường khối lớn nếu thi công không đảm bảo chất lượng các mạch vữa nằm ngang, tải trọng truyền từ khối này tới khối kia chỉ qua những phần riêng biệt của mạch vữa nằm , ngang dẫn đến cường độ k của tường giảm tính cách âm, cách nhiệt của khối xây.

Mạch vữa thẳng đứng chạy ngang qua khối xây gọi là mạch đứng ngang, mạch đứng chạy dọc theo khối xây gọi là mạch dứng dọc.

Trong khối xây gạch, chiều dày trung bình của mạch vữa ngang là 12mm. Chiều dày trung bình của mạch vữa dứng là lomm. Chiều dày từng mạch vữa ngang và mạch vữa đứng không nhỏ hơn 8mm và không lớn hơn 15mm (TCVN 4085:1985).

Tất cả các mạch vữa ngang, dọc, đứng trong khối xây lanh tô, mảng tường cạnh cửa, cột phải dầy vữa (trừ khối xây mạch lõm) (TCVN 4085:1985).

Cách đặt gạch trong khôi xây

Trong khối xây các viên gạch được đặt theo những quy tắc nhất dịnh nhằm đảm bảo chất lượng công trình về kũ mỹ thuật và hiệu quả kinh tế.

Khối xây đặc:

Kiểu cách xây và các hàng gạch giằng trong khối xây phải làm theo yêu cầu của thiết kế.

Kiểu xây thường dùng trong khối xây là 1 dọc -1 ngang hoặc 3 dọc -1 ngang (TCVN 4085:1985)7

Để đảm bảo có giằng, các viên gạch của mỗi hàng phải đặt khác kiểu với các viên gạch của hàng liền trên. Trong khối xây đặc, có các kiểu đặt gạch sau:Khôi xây với kiểu giằng dọc (kiểu chữ công) :Mạch đứng các hàng gạch liền nhau lệch nhau 1/2 viên gạch. Kiểu này được dùng đế xây tường 60mm, 1 lomm, xây đáy bể nước, xây thành bê nhỏ có chiều cao thấp và tường thành bê dày 220.

Khối xây với kiểu giằng

ngang: Là đặt ngang một viên gạch lên trên mạch đứng sao cho các mạch đứng của các hàng gạch liền nhau so le nhau 1/4 viên gạch. Kiểu giằng theo chiều ngang, trong đó ở tất cả các hàng các viên gạch đều nằm ngang; dùng xây các bộ phận có dạng hình tròn, như ống khói, bê’ tròn, tháp nước,....

Khối xây với kiểu giằng ngang hoa mai: Còn gọi là kiểu xây Flemish, rất được ưa chuộng kể từ sau thế kỷ 17. Ở nước ta kiểu này xưa thường được dùng để xây tường ngoài nhà ở nông thôn, mặt ngoài tường dùng gạch lành, mặt trong dùng gạch vỡ hoặc

đất sét để tiết kiệm vật liệu.

Khối xây với kiệu giăng 1dọc -1 ngang (kiểu liên kết đầu kết hợp với mạch dọc): Dùng cho những khối xây từ đúng gạch trở lên. Theo kiểu này, những mạch đứng ngang, dọc của tất cả các hàng gạch đều được giằng. Các viên gạch của hai hàng trên dưới liền nhau đặt lệch nhau 5cm theo chiều dọc khối xây và lệch nhau 1/2         viên theo chiều dày của nó.        

Đây đường như là cách duy nhất mà người ta đã dùng trước kia. Đổ trình tự đặt gạch như thế nên việc thi công tiến triển chậm, tốn công, thao tác của người công nhân phải thay đổi liên tục nên dỗ mệt và hạn chế khả năng sáng tạo. Tuy nhiên hàng gạch dọc được giằng liên tục, chất lượng khôi xây được đảm bảo hoàn toàn. Kiểu này vẫn còn được vận dụng để xây cột, xây móng, xây tường phần thu hồi, xây lanh tô bằng. Kiểu giằng 1 dọc-1 ngang gồm có:

ta khởi đầu xây các hàng gạch     dọc bằng viên 3/4. Cứ cách mỗi hàng các mạch đứng ở mặt khối xây lại trùng nhau .

Tương tự kiểu giằng cả khối, chỉ khác là các mạch đứng của các hàng gạch dọc không trùng nhau cứ cách mỗi hàng, mà cách mỗi ba hàng. Để cho các mạch đứng của những hàng liền nhau lệch đi 1/4 gạch, đồng thời các mạch của những hàng gạch dọc lệch nhau 1/2 gạch, người ta khởi đầu xây những hàng gạch ngang bằng 2 viên 3/4 (cho khối xây 1 gạch), khởi đầu xây những hàng gạch dọc bằng một và hai viên gạch đặt ngang, cứ mỗi bốn hàng một lần .

Khối xây với kiểu giằng 3 dọc -1 ngang: Là cứ 3 hàng gạch dọc được giằng bằng 1 hàng gạch ngang. Với kiểu xây này chỉ giằng được hai chiều cho một số hàng gạch. Theo chiều dọc các mạch đứng của các hàng gạch liền nhau lệch 1/4 viên gạch. Theo chiều ngang mạch đứng của 3 hàng gạch dọc đều trùng nhau.

Kiểu xây này vẫn đảm bảo khối xây bền vững. So với kiểu giằng 1 dọc - 1 ngang, nó có ưu điểm là thi công đơn giản, nhanh, tốn ít công vì cách đật gạch ít thay đổi, số gạch đẽo giảm đi rõ rệt, chủ yếu sử dụng gạch đẽo đài 3/4 viên. Với việc tổ cbức lao động hợp lý, cơ giới hóa một số phần việc, kiểu xây này có thể giúp công nhân tâng năng suất lao động. Khi cỡ gạch không đóng đều hoặc xây tường gạch không trát, đùng kiểu này dễ làm mặt tường bằng phẳng, mỹ quan.

Khối xây rỗng:

Tường gạch 1 —các dãy gạch ở phía ngoài đặt dọc, cứ hai viên

đặt dọc có một viên đật ngang, các viên đặl ngang chỉ hiện ra một đầu ở mặt tường gọi là gạch lộ đầu. Cách đặt gạch này luân phiên thay đổi ở mỗi hàng.

Khối xây không trát:

Khối xây không trát là để tiết kiệm và rút ngắn thời gian thi công hoặc muốn giữ nguyên màu sắc của gạch đế trang trí, tạo sự ấm áp, gần gũi (Hình 1.28). Khối xây không trát thường có các loại sau: khối xây bằng gạch thông thường, khối xây ốp^ạch nung (Hình 1.29), khối xây bằng gạch để trần.

Với khối xây gạch trần người thường sử dụng 2 loại gạch: gạch thông thường đặt bên trong, gạch trang trí (gạch gốm,..) đặt bên ngoài, đặt xen kẽ 1 hàng gạch nguyên đến một hàng gạch bổ đôi để các mạch đứng lệch nhau. Những mạch đứng của mặt tường lệch nhau 1/2 gạch và có nét nhỏ, các mạch dọc thì to hơn (Hình 1.30).

 alt

Công tác chuẩn bị

Dụng cụ dùng để xây sạch

Gồm dao xây, bay xây. thước tầm, thước vuông, thước sắt cuộn, ống thủy bình, quả dọi, dây xây.

+ Dao xây: loại một lưỡi và hai lưỡi, dùng để xúc và rải vữa, xây, chặt gạch, đẽo gạch.

+ Bay xây: dùng để xây.

+ Thước tầm: dùng để kiểm tra mặt phẳng của khối xây, dùng kết hợp với ni vô để kiểm tra độ thẳng đứng, độ ngang bằng của khối xây. Thước tầm thường được làm bằng nhôm, gỗ.

+ Livô: dùng để kiểm tra độ ngang bằng, thẳng dứng của khối xây. Livô thường được làm bằng hợp kim nhôm, gỗ dài từ 4 đến I,2m (Hình 1.33).

+ Ồng thủy bình: là một ông dẫn bằng chất dẻo có chứa nước, dài 15 - 20m, dùng kiểm tra độ ngang bằng của khối xây có chiều dài lớn (Hình 1.34).+ Thước sắt cuộn: dùng để đổ kích thước khối xây, đổ chiều dày mạch vữa, kích thước cửa,...

+ Quả dọi (Hình 1.35): dùng để kiểm tra, xác dịnh độ thẳng đứng của khối xây. Quả dọi được làm bằng thép, đồng có đầu nhọn trùng với trục của dày treo, nặng 0,3 đến 0,5kg.

BỐ trí chỗ làm việc của thợ xây và phân công lao động một cách hợp lý sẽ giảm bớt các thao tác thừa, các công việc trùng lặp, năng suất lao động sẽ cao.

Vị trí làm viêc của thợ xây gồm có: tuyến xây (1), tuyến bố trí vật liệu (2) và tuyến vân chuyển (3).

altHình 47

 

Tuyến xây thường rộng 0,6 - 0,7m nằm giữa bức tường đang xây và nơi để vật liệu, Tuyến bố trí vật liệu để xếp gạch và đặt chậu vữa, gạch xếp thàqh hai hàng, đầu viên gạch quay ra ngoài, đổ đó tuyến xây thường rộng 0,5m. Gạch vữa được xếp xen kẽ, kiêu gạch thường đặt bên trái, chậu vữa đặt bên phải cho thuận tay.

Tuyến vận chuyển rộng 0,8 - l,25m để công nhân đi lại và để cấp vật liệu.

Tại chỏ làm việc, trước khi bắt đầu xây nên dự trữ gạch đủ đùng cho 2 giờ làm việc. Chỗ làm việc phải giữ sạch sẽ, ngăn nấp; dụng cụ được để ở chỗ hợp lý, tiện cho sử dụng.

Pha trộn vữa

Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 4459:1987)

Vật liệu dùng để pha trộn vữa (chất kết dính, cốt liệu, phụ gia, nước) phải bảo đảm yêu cầu theo các tiêu chuẩn Nhà nưóc hiện hành.

Hốn hợp vữa là hỗn hợp được chọn một cách hợp lý, trộn đều của chất kết dính vô cơ, cốt liệu nhỏ với nước. Trong trường hợp cần thiết, có thêm các phụ gia vô cơ hoặc hữu cơ.

Vữa là hỗn hợp ở trạng thái đã đông cứng.

Hỗn hợp vữa mới trộn phải bảo đảm độ lưu động yêu cầu và khả nảng giữ nước sao cho khi xây, vữa chắc đặc.

Đối với vữa đã bị phân tầng đo vận chuyển, trước khi dùng phải trộn lại tại chỏ thi công. Không cho phép dùng vữa đã đông cứng, vữa bị khô.

Khi pha trộn vữa, phải bảo đảm cân hoặc đong các thành phần cốt liệu chính xác. Khi cho thêm các chất phụ gia, cần theo chi dẫn của thí nghiệm và quy định của thiết kế.

Chỗ trộn và trữ vữa trong quá trình sử dụng cần được chc mưa, nắng. Khi thi công trong mùa hè, mùa khô, mùa gió khổ nóng, cần bảo đảm độ ẩm cho vữa bằng cách: nhúng nước gạch đá trước khi xây, tưới ướt hề mặt tiếp xúc với vữa, đùng vữa có độ lưu động cao.

Nên trộn hỗn hợp vữa bằng máy, trường hợp không có điều kiện hoặc khối lượng sử đụng vữa ít, có thể trộn hỗn hợp vữa bằng tay.

Khi trộn hỗn hợp vữa bằng máy phải theo trình tự: cho nước vào máy trộn, sau đó đỡ cốt liệu, châ't kết dính, phụ gia vào máy. Khi vữa cổ phụ gia hóa dẻo hữu cơ, trước hết trộn phụ gia với nước khoảng từ 30 đến 45 giây, sau đó mới cho các vật liệu khác vào máy. Chỉ ngừng trộn sau khi hỗn hợp vữa đồng nhất, nhưng thời gian trộn không nhỏ hơn 2 phút.

Khi trộn hỗn hợp vữa bằng tay, sãn trộn cần bằng phẳng, không thấm nước và kín nước đồng thời phải rộng để công nhân thao tác dễ dàng. Dụng cụ trộn hổn hợp vữa phải sạch, không được dính bám đất và vữa cũ. Cách trộn hỗn hợp vữa bằng tay như sau: trộn đều xi măng vói cát rồi đánh thành hốc (để trũng ở giữa). Hòa hồ vôi với nước thành nước vôi. Đổ nước vôi (hoặc nước nếu trộn vữa xi măng, cát) vào hốc và trộn đều cho tới khi nhận được hỗn hợp đồng màu. Nếu có sử dụng phụ gia hóa dẻo thì phải hòa phụ gia vào nước trước. Trộn xong đánh gọn vào thành từng đống.

Chú thích: Không tùy tiện đổ thêm nước vào để trộn cho dễ. Chú ý đến lượng ngậm nước của cát để điều chỉnh lượng nước cho phù hợp.

Độ lưu động của hỗn hợp vữa như sau:

Vữa bơm theo ống đẫn: 14cm; vữa xây đá tự nhiên: từ 9 đến 13cm; vữa xây gạch nung: từ 7 đến 8cm; vữa xây đá hộc, gạch, bê tông: từ 4 đến 8cm; vữa để đổ vào lỗ rỗng trong khối xây đá hộc: từ 13 đến 14cm. Khi xây trong điều kiện khí hậu nóng, vật liệu khô. vật liệu nhiều lồ rỗng, phải lấy các trị sổ lớn. Khi vật liệu chắc đặc và rỗng đã nhúng nước kv, xây trong điều kiện ẩm ướt, trong mùa đóng, lấy giá trị nhỏ.

Xây kết cấu gạch

Gạch được đùng để xây nhà ở, tường thành, pháo đài, chùa chiền, miếu mạo, cầu cống và các bộ phận công trình như cột. sàn, cầu thang, lò sưởi, ống khói, lanh tỏ, bể chứa,...

Người ta cũng đùng gạch để xây móng thay cho móng bằng đá hộc. Ngày nay, người ta sử đụng móng bê tông cốt thép là chính.

Xây tường

Tường nhà có nhiều loại: tường chịu lực, tường không chịu lực, tường ngăn,...

Tường chịu lực: Tường đỡ tải trọng thẳng đứng bất kỳ cộng thêm trọng lượng riêng. Các tường chịu lực phải dày ít nhất 30,48cm cho chỗ tường cao nhất là lo,67m. Tường nhà ở cao ba tầng có thể dày 20-32cm nếu cao không quá lo,67m, nếu không lệ thước vào các lực đẩy từ kết cấu mái.

Tường không chịu lực: Tường không đỡ tải trọng thẳng dứng nào ngoài trọng lượng riêng của nó.

Tường màn: Tường bên ngoài không chịu lực có dạng két cấu sườn khung, cbức năng chính là chắn gió và tránh tác động của thời tiết bên ngoài vào công trình. Đôi khi đổ yêu cầu sử đụng và kiểu tường tính chịu lửa, cách nhiệt lại là đặc tính quan trọng của tường màn. Tường màn có thể là tấm kim loại nhẹ, lớp ván ốp, gạch ốp cách nhiệt, vật liệu bên hay tường nhiều lớp, tường với. những bộ phân khối xây.

Tường ngăn: Tường bên trong một tầng hoặc có độ cao thấp hơn độ cao tầng đùng để phân nhỏ không gian bên trong công trình (như tường ngăn khu vệ sinh). Tường ngăn có thể là tường chịu lực hoặc tường không chịu íực.

Tường ngăn chịu lực xây bằng khối xây có thể được phủ bằng vữa, tấm ốp tường, gồ dán, các tấm gỗ, chất dẻo hoặc những vật liệu khác đáp ứng yêu cầu kiến trúc và cbức năng.

Tường ốp mặt: Tường mà các mặt ngoài và mặt trong khối xây làm bằng những vật liệu khác nhau và liên kết sao cho cùng chịu tác động của tải trọng.

Tường rỗng: Tường khối xây được bố trí để tạo khoảng không khí bên trong tường giữa mặt cắt thẳng đứng bên trong và bên ngoài. Tường rỗng xây bằng đơn vị khối xây hoặc bằng bẻ tông trơn hoặc bằng hỗn hợp các vật liệu được bố trí để tạo ra khoảng không bên trong tường nhầm tạo sự cách nhiệt, và ưong đó giằng các mặt cắt thẳng đứng trong và ngoài với nhau bằng các dây kim loại.

Tường phân chia: Tường trên đường phân lô bên trong sử dụng hoặc thay đổi cho sự phục vụ chung giữa hai cổng trình, tường rào; thường là tường 100 có bổ trụ (trụ liền tường).

Tường mắt cửa: Tường màn bên ngoài ở mặt phẳng của dầm sàn phía ngoài trong các công trình nhiều tầng. Có thể kéo dài từ đầu cửa sổ bên dưới sàn đến bậu cửa sổ phía trên.

Tường tạo mặt: Tường có mạt ngoài bằng khối xây hoặc vật liệu khác gắn chắc chắn vào mặt trong, nhưng khởng liên kết để cùng chịu tác đông của tải trọng, như tường đá ốp,...

Xây tường chịu lực

Trước khi thực hiên việc xây tường bạn nền chia mặt bằng công trình làm nhiều đoạn thậm chí nhiều phân đoạn phù hợp với lượng thợ mà bạn có. Sau đó bạn cần tính tuyến công tác cua một thợ trong một khoảng thời gian làm việc liên tục nửa ca. Tốt nhất nên bô trí đủ số thợ chính và phụ trên một đoạn hay phân đoạn để tường xây lên đều. Việc phân công lao động giữa các tổ thợ sẽ giúp bạn tạo ra những dây chuyển thi công hợp lý, các công việc sẽ diẻn ra một cách nhịp nhàng, giảm thiểu những gián đoạn về mặt tổ cbức giữa các tổ chợ chính và phụ.

Trong khi thợ phụ chuẩn bị vữa và bố trí vật liệu trên mặí bằng, hãy giúp thợ chính xác định tim các tường trong và các tường ngoài (trước đó cần đọc kỹ biên bản nghiệm thu phần móng để hiệu chỉnh tim trục khi cần thiết). Khi hiệu chỉnh nhớ kiểm tra góc vuông của trục ngang và trục dọc. Sau đó dùng sơn đỏ đánh dấu tim trục trên cổ móng để tiện sử dụng và kiểm tra .

Trước khi xây tường cần láng mội lớp vữa chống ẩm cho tường theo thiết kế. Dùng 2 thước nhôm đặt song song hai bên mặt tường móng cách nhau bằng bể dày tường, chú ý đến vị trí tím tường. Cô định thước đúng vị trí bằng móc sắt làm bằng thép phi 6. Đổ vữa vào trong lòng thước dùng bàn xoa sắt vừa gạt bằng, vùa vỗ nhẹ rồi xoa phẳng. Tháo chốt di chuyển thước sang vị trí khác.

Theo bản vẽ kiến trúc tính toán chiều rộng cửa ra vào; cửa không khuôn lấy rộng ra 3 đến 4cm, cửa có khuôn lấy rộng thêm 2 thân khuôn cộng với 5mm: vạch vị trí cửa trên lớp láng chông ẩm. Trước khi xây tốt nhất nên xếp gạch ướm thử trên suốt chiều dài tường ngoài, các viên gạch cách nhau lcm, xếp từ các góc ra, nếu nhỡ gạch, điều chỉnh mạch vữa sao ít phải chặt gạch nhất.

Phải bắt đầu xây từ tường chịu lực, các tường 100 nên để lại xây sau, tại vị trí có tường 100 có thể để mỏ nanh hoặc mỏ nanh và thép chờ theo thiết kế.

Trước tiên xây một hàng gạch đặt ngang trên một phân đoạn nhà, xây từ góc và từ các mép cửa xây ra.

Dựng cọc lèo và căng dây góc

altHình 48

Cọc lèo dùng để căng dây lèo thường cao hơn một tầng nhà. Cọc lèo được làm bằng gổ, tre hay thép hình, xây tường nhà khung không cẩn dựng cọc lèo mà dựa vào cột để xây.

Dây lèo ăn với mép ngoài tường mặt trước hay mât sau nhà, nhờ đó sau khi xây tường sẽ thẳng theo trục nhà và không bị gẫy khúc. Để bảo đảm độ thẳng dứng của khối xây từ đáy lèo người ta thả dây góc tại các góc tường, mép cửa, mép trụ đầu kia của dây được cắm chặt vào khối xây, dùng dọi điều chính cho dây thẳng dứng. Xây tường trong dùng thước cữ kẹp vào khối xây thay dây góc.

b. Bắt mỏ

Tại các góc tường, mép cửa thợ chính bắt mỏ lên 4 đến 5 hàng gạch, kiểm tra mỏ theo 6 nguyên tắc xây rồi căng dây'xây, xây đến dâu bắt mỏ đến dó. Khi ngừng xây phải để mỏ giật không được để mỏ nanh hay mỏ hốc.

Xây tường có cửa ra vào:

Xây 4 đến 5 hàng gạch thì dựng khuôn.

Khuôn phải được chống đỡ cẩn thân, được đặt dùng cốt: vết cưa dưới chân khuôn cách cốt nền hoặc sàn 5mm.

alt

Thanh dố ngang phải ngang bằng, mặt phảng khuôn phải thẳng dứng song song với mặt phẳng tường và nhố ra khỏi tường một bề dày lớp trát. Chân khuôn và hai cạnh tiếp giáp với tường phải được quét hắc ín, mỗi khuôn phải có từ 2 đến 3 bật sắt được chôn chặt với tường. Trước khi lát nền tuyệt đối không được tháo thanh giằng chân khuôn. Khi xây nên đặt gạch cách thân khuôn 2 đến 3mm để gỗ co ngót, đãn nở.

Nếu đặt khuôn sau, khi xây tường tuyệt dối không được để cửa rộng quá. Cửa để rộng ỉáp khuôn sẽ dễ dàng hơn nhưng không đảm bảo chèn chắc khuôn với tường; trong quá trình sử dụng dóng, mở cửa nhiều khuôn dễ lỏng dần khỏi tường.

Cửa có khuôn đặt sau hay cửa không khuôn khi xây dểu phải để lỗ chờ bật sắt hay goong cửa. Số lượng lỗ chờ phụ thước vào chiẻu cao cửa.

altHình 50

Cửa cao đưới 2m mỗi bên để ba lỗ chờ ở giữa và cách hai bên mép trên và dưới cửa 3 đến 4 hàng gạch. Khi xây phải thả đây góc dê’ bảo đảm độ thẳng đứng của tường hai bên cửa (Hình 1.40).

Xây múi đua

Là xây gạch nhố ra ngoài tường hay trụ để đỡ mái hiên hoặc để trang trí.

Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 4085:1985):

Phần đua ra của mỏi hàng gạch trong khối xây mái đua cho phép không lớn hơn 1/3 chiều dài viên gạch. Toàn bộ phần đua ra của mái đua gạch không có cốt thép cho phép không ỉớn hơn 1/2 chiều đày tường.

Mái đua ra lớn hơn 1/2 chiều dày tường, phải được xây bằng gạch có cốt thép, bê tông cốt thép hoặc cấu kiện lắp ghép và phải neo chặt vào khối xây, vữa xây có mác không nhỏ hơn 50.

Mái đua có neo trong tường chỉ được xây sau khi tường có đủ cường độ thiết kế. Nếu cần làm sớm hơn thì phải gia cố tạm thời, đảm bảo cho khối xây mái dua và tường ổn định. Trong mọi trường hợp, đêu phải chống giữ tạm đến khi mái đua và tường đạt cường độ yêu cầu.

Kỹ thuật xây:

Cách đặt gạch mái đua có kiểu các viên gạch nhố ra từng viên một hoặc một lớp một viên rồi một lớp hai viên kế tiếp nhau.

Mái đua xây bằng gạch trần phải chọn gạch cùng màu, kích thước viên gạch đều nhau, xây mặt bóng đẹp của viên gạch quay xuống dưới, xây xong cạo mạch, dùng chổi dót quét sạch vữa dính trên gạch.

Xây gờ cũng phải căng dây, chú ý xây các viên bên trong trước (các viên gạch đặt chéo trong hình), rải vữa phía ngoài dày hơn phía trong để viên gạch không bị chúi xuống. Trường hợp xây tựa trên những tâm bê tông cốt thép, trước tiên đặt những tấm đầu, tâm trung gian điều chỉnh sao cho các tấm này ngang bằng, nhố ra đều sau đó căng dáy đặt các tấm còn lại. Sau đó xây mái dua lên trên các tấm bẻ tông đã lắp ghép. Các hàng gạch nhố ra phải xếp ngang. Phải có cây chống dỡ bên dưới cho đến khi khối xây đông cứng.

altHình 51

Xây cách bậu cửa 4 đến 5 hàng gạch thì kiểm tra cốt cao độ và độ ngang bằng của khối xây. Nếu có sai lệch phải tính toán số hàng gạch chẵn và điều chỉnh chiều dày mạch vữa trong phạm vi cho phép, khi cần phải xây vỉa gạch để dừng dùng cốt bậu cửa và ngang bằng.

Với cửa sổ có gờ, khi xây đến vị trí hàng gạch tạo gờ cần vạch vị trí các cưa sổ lên tường. Với mỗi cửa sổ cần đổ chiều rộng cửa, tính sô viên gạch xây gờ; chốt thanh dỡ (7) bằng gỗ la ti vào dưới bậu cửa, xây chính xác hai viên ở hai mép cửa rổi căng đây xây các viên giữa (Hình 1.42), xây xong cẩn có biện pháp bảo vê tránh đổ hàng gạch gờ cửa.

Xây tường hai bên cửa đến hết độ cao tường đợt 1 thì dừng lại. Ca sau, bắc giáo, dựng khuôn cửa, hay thả dây lèo, xây tiếp đến cách vị trí đặt lanh tô 4 đến 5 hàng gạch lại kiểm tra độ ngang bằng và cao độ của khối xây để điều chỉnh sao cho sau khi xây vị trí tường đặt lanh tô cao hơn cửa lcm và ngang bằng.

Ca sau bắc giáo, lắp dụng ván khuôn, cốt thép và đổ bê tông lanh tô, ô văng. Đổ bê tông lanh tô, ô văng xong có thể xây tường đợt 3 ngay. Bên trên lanh tô đôi khi có gờ chắn nước xây bằng gạch.

Gờ có gờ mái nằm trên đỉnh tường ngay dưới máy nhà, gờ nhỏ xây phía trên cửa, gờ trung gian, gờ giữa các tầng.

Tạo điều kiện thoát nước mưa chảy từ trên mái xuống hoặc nước mưa phả lên tường đồng thời góp phần tăng vẻ đẹp cho ngôi nhà và là một phương tiện thể hiện sự đa dạng trong bố cục kiến trúc. Đổ đó khi xây phải chú ý đến kích thước, độ nhố ra, độ ngang bằng, góc vuông của gờ nhất là khi xây tường gạch trần.

Xây tường cong

Tường cong thường được dùng để xử lý những góc nhà không được vuông hay khi cần thể hiện một ý đồ kiến trúc.

Trước khi xây đoạn tường cong cần phải đóng cọc tim và vạch đoạn cong thạt chính xác trên lớp láng chống ẩm (Hình I.45a). Xây đoạn tuờng cong cầQ dùng các viên gạch nguyên kích thước đều nhau, đặt gạch sao cho mạch vữa hình nêm hướng về tâm đoạn cong, với độ cong nhỏ phải dùng gạch đẽo. Trong quá trình xây thường xuyên đùng dây compa có đầu buộc vào cọc tim của đoạn tường cong để kiếm tra độ hướng tâm của cấc viên gạch xây và độ cong của tường

altHình 52

Xây tường ngăn:

Tường ngăn thường được dùng làm vách ngăn trong các khu bếp, xí tắm,... của nhà dân dụng. Tường ngăn thường mỏng bằng 1/2 gạch nên phải thi công thật cẩn thân. Tường ngàn cho các khu phụ dùng gạch già cường độ cao, chống thấm tốt, chọn các viên gạch có kích thước đều nhau để dễ xây và mặt tường được phảng. Tường khu vệ sinh phải được xây trên gờ chống thấm bằng bê tông.

Trước khi xây tường ngăn liên kết với tường chịu lực bằng mỏ nanh phải tưới vữa lỏng vào các khe rãnh, khi xây bảo đảm thật no vừa tại 3 mặt gạch liên kết với mỏ.

Tường lấp kín khung bắt bước phải có liên kết với cột chịu lực bằng thép chờ, hàng gạch trên cùng được xây vỉa nghiêng để chèn chặt với dầm. Hàng gạch này nên xây sau cùng khi vữa xây đã co ngót hết.

Tường ngăn có khung cửa nên lắp khung cùng lúc với xây, chốt đuôi cá phải được chèn k1 bằng vữa xi măng 1:2 và gạch vỡ.

Một số chú ý khi liên kết tường gạch với sàn, dầm và cột: Với sàn dầm bê tông cốt thép, xây tường đến cao độ thiết kế, chừa lại những lỗ dể gác dầm. Các lỗ chờ đầm nên để theo kiểu mỏ giạt sau này xây chèn đầu dầm được dẻ.

Xây tường chèn khung bê tông cốt thép cần chú ý: mạch xây phải nhỏ, dầu
tường phải được chèn chặt, các cột phải được quét k1 nước xi măng đặc, xây phải
bảo đảm tường và cột dính chặt với nhau. Cứ 5 đến 6 hàng phài có một bật thép
chờ sẵn ở khung cột, bật thép được làm bằng thép 6+8mm dài 0,25 - 0,3m
câu vào mạch vữa xây của tường chèn. Bật thép được đặt sẫn khi đổ bê tông cột

hoặc có thể khoan đặt sau.

altHình 53

Dùng máy kinh v1.Hoặc dùng dọi truyền tim tường (tim đánh trên cổ móng) lên sàn, cô' định tim bằng sơn đỏ. Chú ý nếu trục tường tầng 1 có sai số trong phạm vi cho phép, phải hiệu chính dần ở các tầng. Với tường trong cần kiểm tra các đường mép và tim tường xem có trùng với tường ở tầng dưới không, đừng để xây hẫng với tường dưới hoặc sai lệch kích thước.

Nếu mặt sàn không bằng phẳng phải dùng bê tông sỏi nhỏ hoặc đá dăm nhỏ mác lo0 sửa cho bằng để bắt mỏ được chính xác.

Khi vạch cửa sổ tầng trên phải dùng máy kinh v1 dẫn từ cửa sổ tầng dưới lên để phần tường ở hai bên cửa sổ ở các tầng thẳng đứng không gãy khúc.

Xây tường gạch không trát, không ốp

Tường xây bằng gạch không ốp, không trát đã có từ thời Trung cổ.

Nước ta có gạch gốm Bắt Tràng với màu đỏ, xanh,... tươi rói, ấm áp mà không kém phần sang trọng. Với tường gạch để trần mạch vữa xây có thể được lấp đầy hoặc để lõm. Xây tường không trát, không ốp có các loại mạch vữa sau:

Mạch phẳng (mạch bằng): bề mặt mạch vữa ăn với bề mặt của tường

Mạch lõm: mạch lõm vào khối xây 3 - 4m.

Mạch nghiêng đơn: mạch vữa vát nghiêng từ dưới chân mạch lên.


 

 


Mạch cong lồi: mạch vữa cong và lồi ra khỏi mặt tường .

Mạch cong lõm: mạch vữa ong lõm vào trong khối xây , thường dùng cho tường dá.

+ Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 4085:1985):

Phải xây mặt đứng phía ngoài của tường không trát, không ốp bằng những viên gạch nguyên đặc chắc, có lựa chọn màu sắc, góc cạnh đều đăn. Chiều dày các mạch vữa phải theo đúng thiết kế.

Trong khối xây mạch lõm, chiều sâu không trét vữa của mạch phía mặt ngoài được quy định như sau:

Không lớn hơn 15mm - đối với tường.

Không lớn hơn lomm - đối với cột.

Xây tuờng gạch trần kích thước gạch phải thống nhất.

Sai số theo chiều đài (220mm) < ± 4mm.

Sai số theo chiều rộng (lo5mm) < ± 3mm.

Sai số theo chiều cao (60mm) < ± 2mm.

Gạch khồng được cong, vênh, sứt mẻ góc cạnh, rạn nứt, không có khuyết tật ở phía mặt xây trần, các góc phải vuông.

Màu gạch phải thống nhất, đồng đều, lựa chọn trong cùng một điều kiện độ ẩm, thời tiết. Độ hút nước của gạch phải đồng đều và không lớn hơn 12% để bảo đảm khi ẩm khối xây vẫn đều màu. Ngoài ra, khi xây cần chú ý các mạch sao cho ngay ngắn, mạch dứng và mạch ngang thẳng góc nhau và có chiều dày như nhau, các hàng gạch giằng ngang đọc phải theo kiểu đặt gạch đã chọn.

+ Kỹ thuật xây:

Chọn gạch theo yêu cầu kỷ thuật và yêu cầu của thiết kế. Trình tự và kỹ thuật xây giống như xây tường có trát nhưng đòi hỏi cao hơn: các góc vuông phải thật vuông, các đoạn tường cong phải uốn đều theo đây cung; ngang bằng phải thật ngang bằng, thẳng dứng phải thật thẳng dứng, các mcp tường, cạnh cửa, cột trụ phải thẳng và sắc cạnh; mạch vữa đúng và ngang thẳng góc nhau và có chiều dày đều dặn, lõm đều hoặc lồi đều, phẳng nhẵn. Việc xếp gạch khác màu tạo mẫu trang trí nếu có phải thực hiện theo chi dẫn của nhà thiết kế. Xây gờ chú ý chọn mặt bóng đẹp quay xuống dưới. Xây ưụ thì các hàng gạch phải xây thật đều và đối xứng nhau. loại lanh tô cuốn nhố ra khôi mặt tường để trang trí phải bảo đảm nhố ra đều, mặt cuốn phải thật phẳng, cuốn phải cân đều. Trước khi kết thúc một đoạn xây phải làm sạch mặt tường.

+ Kỹ thuật bắt mạch:

Sau khi xây xong phải bắt mạch để tạo thêm vẻ đẹp cho mặt tường và bảo vệ mạch vữa.

Dụng cụ bắt mạch và phục vụ cho cộng tác bắt mạch xem hình 1.52.

Vữa bắt mạch thông thường là vữa xi măng ti lệ 1:1, độ đẻo 4-5cm, sử dụng cát mịn có đường kính hạt 3 đến lmm. Trước khi xây trộn vữa đủ đùng, vun gọn, tạo hốc, đổ đủ nước vào dó, đùng đến đâu đào đến đấy. Vữa xi măng để lâu quá 1 giò không được trộn lại để sử dụng.

Trước khi bắt mạch quét sạch mặt tường, tưới nước đủ ẩm, sửa chữa các mạch chưa dù no hoặc quá đáy, dùng vữa xi măng trắng có pha màu gạch trám lại các góc cạnh viẽn gạch bị sứt mẻ nếu có.

Tiến hành bắt mạch từ trên xuống, bắt mạch ngang trước, mạch dứng sau, di chuyển theo hướng thuận tay trái hay tay phải. Khi bắt mạch, việc ngừng, ngắt đoạn phải ở vị trí thống nhất để tránh bỏ sót. Bê đựng vữa cần đặt sát vào mặt tường, để hứng vữa rơi.

Lên vữa được một đoạn đủ cho vữa trước .se mặt thì đùng bay miết mạnh vào mạch vữa từ trái sang phải cho thật bằng phẳng và có độ sâu đều đặn. Sau đó làm sạch mặt tường ngay không để vữa bám bẩn mặt tường. Các mạch vữa nằm ngang ở góc ngoài của tường cần phải thẳng đều, các mạch đứng ở góc trong (nách tường) phải đích dắc, hai bên phải rõ ràng, không nên tạo thành một đường thẳng từ trên xuống dưới, ảnh hưởng đến mỹ quan. Các mạch liền với khuốn cửa phải dùng vữa trát kín và đều đặn. Bắt mạch vòm cuốn phải được làm ở mặt trước và mặt dưới; lanh tô cuốn bắt mạch ở mặt trước, mặt sau và mạch dưới; các gờ dưới cửa sổ phải bắt mạch cả 3 mặt phố ra ngoài, các gờ trên cửa sổ phải bắt mạch ở mặt trước và mặt dưới; ở chỗ góc phải bắt mạch cho vuông vắn.

Trường hợp xây tường bằng gạch trần loại thông thường, sau khi xây, phải rửa sạch các vết bẩn trên tường bằng axit pha loãng và rửa các viên gạch bằng nước nóng. Sau đó gia công sửa sang iại các mạch vữa cho thẳng và đạt được hình dạng nhất định.

Xây cột gạch

Cột gạch thường được làm kết cấu chịu lực trong các công trình nhỏ, thấp tầng hoặc được dùng để trang trí. Cột gạch có hai loại: cột độc lập và trụ liền tường.

Cột độc lập: là cột phân tách của khối xây. Có các kiểu cột vuông, cột chữ nhật, cột tròn, cột sáu hoặc nhiều cạnh,...

Trụ liền tường: là cột mà liên kết hoặc lắp ghép bằng then của khối xây, được xây dựng như một phần tường, nhưng dày hơn tường và có độ dày đều suốt chiều cao của cột. Đóng vai trò như cột, xà thẳng đứng hoặc cả hai.

Một số chú ý khi xây cột gạch:

Cột gạch thường là kết cấu chịu lực (chịu nén đúng tâm), có tiết diện nhỏ, chịều cao lớn nên phải được thi công thật cẩn thận.

Khi xây không được điều chỉnh bằng cách gõ ngang trụ.

Mạch xây phải đều và đầy vữa, độ thẳng đứng của cột phải được kiểm tra chặt chẽ trong quá trình xây. Chiều dày mạch vữa ngang không vượt quá 10mm.

Trong quá trình xây phải chú ý việc chừa lỗ trong cột nếu có để tránh đục khoét sau khi xây. Cấm khoét đục đường rãnh trong cột, những đường rãnh cần thiết phải được chừa lại trong quá trình xây với những viên gạch đẽo 1/3 hoặc 1/4.

Mỗi đợt xây không cao quá 1,5m.

Giáo xây phải đặt xung quanh cột. không được dựa hay gác lên cột. Khi bắc giáo không để va chạm vào cột.

Cột liền với tường ngăn, khi xây cột phải để mỏ nanh và đặt cốt thép liên kết. không được đế mó hốc.

Trước khi xây cột tầng trên phải dùng máy kinh v1 truyền tim cột từ cổ , móng lên.

Sau khi xây phải có biện pháp đề phòng cột bị va quệt hoặc gió to làm đổ cột.

Xây cột vuông, chữ nhật: Kiểu xếp gạch xây cột

Trước khi xây cần kiểm tra tim cột và độ cao của mặt trên móng trụ. Nếu có nhiẽu cột trên một đường thẳng thì phải căng dây để kiểm tra và điều chỉnh tim trên tất cả các cột: trước tiên người ta kiểm tra tim của hai cột đầu và cuối trên một trục, rồi căng dây kiểm tra tim dọc cửa các cột trung gian, còn tim ngang được kiểm tra bằng cách đổ bằng thước sắt dọc theo dây căng.

Các tim ngang và tim dọc của tất cả các cột phải thẳng góc nhau, nếu có sai số trong giới hạn

cho phép phải tiến hành điều chỉnh. Sau khi điều chỉnh nền dùng sơn dỏ đánh dấu tim cột theo hai phương trên tất cả các cổ móng cột .

Nếu thấy các trụ cao thấp không đều nhau thì đùng bê tông sỏi nhỏ mác 100 sưa cho bằng phẳng dùng cốt thiết kế.

Thường sau khi xây gần hết một tầng mới quay ra xây cột, khi đó tim và cốt của cột sẽ được dẫn từ từn và cốt của tường ra.

Gạch xây cột phải được chọn lựa kỹ, bảo đám chất lượng, kích thước đều nhau, vuông vắn, không bị cong vênh, sứt mẻ. Vữa xây cột là vữa xi mãng, mác vữa lấy thèo thiết kế. Mặt bằng thi công phải sạch sẽ, gạch vữa, dụng cụ phải được sắp xếp bố trí đúng vị trí, trong tẩm tay của thợ. Mặt móng và gạch phải sạch và được tưới nước đủ ẩm.

altHình 54

Từ tim đã đánh dấu trên từng cổ móng dùng thước mét, thước vuông, thước tầm, dây vạch dấu kích thước chân cột lên mặt móng; nên căng dây làm cho cả dãy cột.

Xây hàng gạch thứ nhất theo vạch dấu thật chính xác rồi xây hàng gạch thứ hai và thứ ba, dùng li vô kiểm tra độ thẳng đứng cả bốn mặt cột, đổ vữa đầy mạch ruột.

Để xây được nhanh và chính xác, đảm bảo cột thẳng đứng không bị nghiêng, không bị cong vênh, vặn vỏ dỗ ta phải dựng cọc lèo, căng dây lèo và thả dây góc.

Trong quá trình xây phải thường xuyên dùng thước tầm, thước góc, thước livô để kiểm tra. Xây cách đỉnh trụ 7 đến 10 hàng gạch, càng dây qua cả dãy trụ, dùng ống thủy bình kiểm tra độ ngang bằng của dây, dùng thước sắt kiểm tra chiều cao cột, sau đó tính toán và xử lý để dừng dùng cốt và các đầu cột ngang bằng. Nên sớm thi công bê tông cốt thép dầm sàn hoặc hệ dầm nhà để cố dịnh vĩnh viễn đầu cột, tránh để đầu cột tự do lâu rất dễ bị đổ.

Xây trụ liền tường

Trụ liền tường có tác dụng làm tầng độ cứng và sức chịu lực của tường. Yêu cầu đối với trụ liền tường là phải cùng với tường thành một khối thống nhất. Kiểu xếp gạch xây trụ liền tường.

Về cơ bản xây trụ liền tường cũng giống như xây cột, nên xây trụ với tường cùng một lúc như xây góc tường. Bắt mỏ đến đâu xây tường ngay đến đó.

Sau khi đã xác định được tim trụ và tường thì tiến hành vạch dấu kích thước chân trụ.

Theo dấu chân trụ xây lên 3 đến 4 hàng gạch. Kiểm tra độ thẳng đứng, góc vuông và mặt phảng trụ thì tiến hành thả dây góc. Khi xây cần chú ý đặt các viên gạch tiếp giáp với dây góc, cách đây khoảng Imm, không được chạm vào dây đế phòng đây sai lệch. Trong quá trình xây phải thường xuyên dùng thước vuông để kiểm tra góc vuông của trụ, độ phẳng của mặt trụ của tường, độ thẳng đứng của các góc trụ.

Xây trụ liền tường ngoài phương pháp căng dây lèo còn dùng phương pháp xây bằng thước tầm hoặc các khung gỗ và thước góc.

Xây cột gạch có cốt thép hoặc lõi bê tông cốt thép

Để tăng cường khả năng chịu lực của cột gạch nhất là chịu lực uốn có thể sử đụng cột gạch có gia cường cốt thép hay khi muốn mở rộng tiết diện cột, cần tạo các gờ trang trí,... người ta xây cột gạch có lõi bê tông cốt thép . Ở những cột này dùng vữa xi măng cát, tốt nhất là cát vàng. Các yêu cầu về kỹ thuật và các biện pháp bảo đảm các yêu cầu đó cũng làm như đối với cột gạch.

Xây cột tròn:

Kiểu xếp gạch xây cột tròn.

Việc xác định tim, cốt để xây cột tròn cũng giống vuông hay chữ nhật. Để vạch dâu chân cột trên mặt móng ta phải đùng compa.

Hình 55

Gạch dùng xây cột không nên chọn loại quá già hoặc quá non để dễ đẽo khi cần tạo khung tròn.

Trước tiên xây hàng gạch thứ nhất ăn với dấu vạch trên mặt móng, dùng thước vanh kiểm tra độ tròn của hàng gạch vừa xây, sau đó căng dây lèo tại bốn vị trí 1, 2, 3, 4 và dùng dây dọi điều chỉnh độ thẳng đứng của dây lèo.

Hình 56

Thước vanh, thước tầm và dựa vào dây lèo đứng để xây. Xây các viên ở trong trước, các viên ở phía ngoài phải được đẽo gọt tạo độ cong phù hợp với độ cong của cột, trước khi sửa phải đặt gạch ướm thử, sau khi sửa cũng phải đặt gạch ướm thử rồi mới đem xây. Ở những vị trí không có dây lèo có thể dùng thước tầm ướm đứng, thước vanh ướm ngang để điều chính. Chú ý khi ướm, phải đặt thước vanh ngang bằng, hai đầu thước ăn bóng với dây. Xây gần đến đỉnh cột phải tính toán để hàng gạch xây trên cùng đạt độ cao thiết kế và ngang bằng.

Xây lanh tô và cuốn       

Lanh tô gạch là kết cấu lực trên các cửa đi. cửa sổ hoặc trên các lỗ chừa sẵn có nhịp lớn. Ngày nay, lanh tô gạch được dùng trong các công trình của Ngọ môn thành Hà Nội.

Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 4085:1985):

Các loại lanh tô đều phải xây bằng gạch nguyên, lựa chọn kỹ.

Lanh tô xây vỉa phải có mạch vữa hình nêm đặc, đầu dưới mạch có chiều dày ít nhất 5mm, đầu trên không dày hơn 25mm. Lanh tô phải xây đồng thời từ hai đầu dồn vào giữa, viên gạch khóa phải nằm chính giữa lanh tô (trục chính giữa lanh tô chia đôi viên gạch khóa).

Mạch ngừng thi công đối với lanh tô xây cuốn nhịp lớn được phép bố trí cách hai đầu của lanh tô một cung chắn góc ở tâm 30°. Phần vành cung chắn còn lại phải xây hết trong các đợt tiếp theo.

Vữa xây lanh tô cuốn phải theo yêu cầu của thiết kế.

Gạch và mạch vữa trong lanh tô xây vỉa và xây cuốn phải cùng hướng vào tâm của vòm cuốn. Cấm đặt gạch xây theo kiểu xỉa tiền.

Nếu chiều rộng phần tường giữa các lanh tô nhỏ hơn lm thì phải xây tường cùng mác với vữa lanh tô và không nhỏ hơn mác 25.

Thời hạn giữ lanh tô trên ván khuôn không được nhỏ hơn các trị số ghi trong bảng 1.12.

Bảng 1. 12

Kết cấu lanh tô

Mác

vữa

Nhiệt độ không khí bên ngoài trong thời kỳ bảo dưỡng lanh tỏ (0°C)

Thời hạn giữ tanh tò trong ván khuôn không ít hơn (ngày đêm)

Xây vỉa Xây cuốn

 

Dưới và bằng +5

10

 

Trên +5 đến +10

8

 

Trên +10

5

 

 

Dưới và bằng +5

20

 

10

Trên +5 đến +10 Trên +10

15

10

 

Lanh tô vỉa đứng thường được xây dưcí dạng gạch trần để trang trí. Cách xây lanh tô vỉa đứng như sau:

Xây tường hai bên cửa lên đến cao trình đặt lanh tô thì dừng lại. Ca sau tiến hành xây biên cuốn, biên cuốn cách mép cửa 2 - 3cm để lại một cái bậc gọi là vai cuốn.

Nếu cửa không khuôn phải lắp dựng cốp pha để đỡ cuốn trong quá trình xây và cho đến khi lanh tô đạt cường độ cần thiết theo bảng 1.1 mới được tháo ván khuôn. Ván khuôn được gia công có chiều rộng bằng chiều dày tường, chiều dài ngắn hơn chiều rộng cửa lcm, đặt cao hơn diểm đặt lanh tô 5 đến 2cm.

Đo chiều dài lanh tố và tính toán sao cho số lượng các viên gạch đứng của cuốn là con số lẻ, chúng đối xứng với nhau qua tâm cuốn. Tùy theo số gạch đã tính toán mà vạch số viên gạch và vữa lên cốp pha.

Trước khi xây tưới ẩm ván khuôn và gạch, chọn những viên gạch có bề mặt đẹp phỏ ra ngoài để xây, rải một lớp cát lên ván khuôn và tưới ẩm cát để tạo độ vồng thi công, ở giữa dày 20mm, hai đầu dày 5mm.

Xây đông thời từ hai đầu lanh tô vào giữa, cho vữa vào giữa viên gạch, dùng tay áp chặt viên gạch vào biên cuốn, viên gạch phải thẳng góc với cốp pha. Viên cuối cùng nằm chính giữa cuốn' gọi là “viên khóa”, cho vữa vào cả hai mặt viên khóa rồi nhét chặt vào, xây xong làm sạch mặt gạch, sửa mạch vữa rồi tiến hành bắt mạch, lau sạch mặt gạch.

Cuốn xây phải thật đối xứng, vữa phải đông đặc, no đều, các viên gạch phải áp chặt vào nhau, mặt phẳng cuốn phải thật phẳng ân với mặt tường (khi xây nên căng dây để làm chuẩn) mép trên và mặt dưới của lanh tô phải ngang bằng.

Xây lanh tô cuốn vòm

Gạch xây cuốn phải là gạch loại A, được chọn lựa kỹ, dùng gạch gốm là tốt nhất. Gạch có thể được gia công trước phù hợp với từng vị trí xây, khi đó mạch vữa có dạng hình chữ nhật, chiều dày đều nhau, trung bình dày 10mm (8 < ômv < 15). Tất cả các viên gạch xây đều phải hướng vào tâm vòm.

Trường hợp gạch xây cuốn không được gia công trước thì mạch vữa có dạng hình nêm (đầu nhỏ không nhỏ hơn 5mm, đầu lớn không lớn hơn 25mm). Gạch phải được ngâm nước kỹ trước khi xây. Vữa xây cuốn là vữa xi măng, mác vữa lấy theo thiết kế, vữa phải đẻo, mạch vữa phải thật no dầy. Một viên gạch non bị vỡ hay một số mạch vữa kém no có thể làm cuốn bị nứt, đổ.

Xây cuốn là một hình thức chuyển trạng thái làm việc từ chịu kéo sang chịu nén để phù hợp với khả năng chịu lực của gạch. Lực đẩy của chân các lanh tô trên các lỗ cửa trung gian triệt tiêu lẫn nhau. Lực đẩy của chân các lanh tô trên các lỗ cửa biên tại các góc truyền vào các mảng tường góc nhà, với các cuốn đơn cung vậy. Do đó chỉ tiến hành xây cuốn khi phần tường đỡ chân các cuốn đạt cường độ cần thiết (ít nhất 7 ngày).

Ván khuôn đỡ cuốn phải được gia công lắp dựng chính xác, đúng đường cong của cuôn; kết cấu ván khuôn phải vững chắc, ổn định, dễ lắp, dễ điều chỉnh và tháo dỡ. Sau khi lắp đựng ván khuôn, đo chiều dài từ đỉnh xuống chân cuốn, tính toán số lượng các viên gạch, chiều dày các mạch vữa sao cho viên khóa nằm đúng trục tàm cuốn. Nếu gạch xây được đẽo đạng hình nêm phải xếp thử trên mặt bằng, chỉnh sửa và đánh đấu thứ tự từng viên. Trên mặt ván khuôn cũng phải vạch và đánh dấu vị trí từng viên gạch cho khớp với tính toán.

altHình 57- hình 58

 

alt

Xây cuốn đối xứng từ hai biên cuốn lên đều, xây hai viên ở chân cuốn thật chuẩn, viên gạch hướng vào tâm cuốn. Trong quá trình xây thường xuyên dùng đây compa kiểm tra độ cong trên và dưới của cuốn, kiểm tra độ hướng tâm của viên gạch xây cuốn. Xây viên khóa phải ướm và chém gạch theo hình nêm, phết vữa vào hai mặt bên của viên khóa, đặt theo phương thẳng đứng và chèn căng. Xây cuốn xong phải che đậy, bảo dưỡng cuốn, không để mưa xói vào mạch vữa, nắng làm nứt mạch vữa.

Tháo dỡ ván khuôn cuốn phải tôn trọng thời gian cho phép tháo và trình tự kỹ thuật tháo, tháo dỡ phải nhẹ nhàng, trước khi tháo toàn bộ, tháo nêm, hạ ván khuôn từ lo - 15cm; kiểm tra toàn bộ cuốn, nếu không cổ hiện tượng nứt, sập cuốn mới tháo nốt.

Xây vòm

Vòm dùng cho đường hầm, mái nhà,... Xây vòm về cơ bản giống xây cuốn tròn, nhưng khi xây, các viên gạch không những liên kết với nhau theo chiều dày mà theo cả chiều dài cuốn để bảo đảm tính vững chắc và hoàn chỉnh của toàn bộ cuốn.

Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 4085:1985):

Khối xây vòm (kể cả khối xây lanh tô cuốn) và vỏ phải dùng gạch đá có kích thước tiêu chuẩn. Có thể sử dụng vữa xi măng hoặc vữa hỗn hợp để xây vòm, vỏ...


Trước khi xây phải dựa vào cỡ gạch, đá mà chia trước lên ván khuôn (từ đỉnh xuống chân) và điều chỉnh cho chẵn viên gạch.

Gạch, đá dùng cho khối xây vòm và vỏ mỏng phải được ngâm kỹ trước khi xây. Gạch có vết nứt, vỡ, cong vênh đều phải đổi.

Trong khối xây vòm chỉ nên dùng vữa xi măng poóclăng, không được dùng vữa xi măng poóclăng xí và xí măng poóclăng pudơlan cũng như các loại xi măng khác đông cứng chậm, ở nhiệt độ thấp.

Sau khi xây xong phần tường đỡ chân vòm. vỏ mỏng nếu nhiệt độ không khí cao hơn 10°C thì ít nhất 7 ngày mới được bác đầu xây vòm và vỏ mỏng. Nếu nhiệt độ từ 5 đến 10°c thời hạn trên kéo dài 1,5 lần.

Việc tháo dỡ ván khuôn phải làm nhẹ nhàng theo trình tự cân đối trên toàn diện vòm, vỏ mỏng. Trước hết tháo nêm hoặc hộp cát điều chỉnh chân chống hạ toàn bộ ván khuôn xuống từ 0,1 đến 0,15m. Sau khi kiểm tra không thấy các hiện tượng nứt vỡ, sụp đổ mới được tháo dỡ hẳn ván khuôn.

Ván khuôn vòm được lắp dựng toàn bộ hay một phần tùy thước vào chiều dài vòm, loại vòm và theo thiết kế quy dính. Ván khuôn đà giáo phải vững chắc, độ cong phải phù hợp với yêu cầu của thiết kế, bề mặt ván khuôn không lồi, lõm, phải phẳng và cong đều. Sau khi kiểm tra nghiệm thu cẩn thân mới được xây.

Hình 59

Khi xây theo chiều dài. các viên gạch phải liên kết nhau theo kiểu cài răng lược, xây từ đầu này đến đầu kia và xây đồng thời từ hai bên vào nóc vòm. Khi xây để mỏ chéo cho hai bên dài hơn, ở giữa ngắn hơn, có nhự vậy các lớp gạch mới bắt vào nhau được tốt. Không được xây các lớp gạch ngang bằng nhau vì như vậy các viên gạch xây tiếp theo sẽ ăn vữa không chắckhông đầy đủ .

Khi xây tốt nhất không nên để vật liệu lên ván khuôn.

Nếu bước phải để vật liệu lên ván khuôn thì phải đế dàn đêu và cân bằng cả hai bên để tránh ván khuôn biến dạng đổ chịu lực không đều.

Nếu là vòm mái nhà thì đầu vòm phải cách tường chừng 1 - 2cm, không nên xây hẳn vào tường, nếu không vòm sẽ bị nứt vì biến dạng đổ chịu lực. Xây nhiều vòm kế tiếp nhau, tốt nhất nên xây cùng một lúc để triệt tiêu lực đạp ngay ở chân vòm.

Nếu có lỗ chờ ở nóc vòm, phải để chừa ngay trong khi xây, cấm đục sau khi xây ảnh hưởng đến tính toàn khối của vòm.

Xây xong cần láng vữa khắp mặt vòm, phủ rơm rạ, bao tải hoặc bạt dứa để bảo dưỡng. Thời gian và trình tự tháo ván khuôn vòm phải tuân theo chi dẫn của thiết kế.

loại vòm cuốn liên tục đôi khi được dùng để xây cầu thang với mục đích trang trí

Xây ông khối và lò sưởi

Trước khi ống khối và lò sưởi ra đời, lửa chỉ được đốt ở bên ngoài để tránh nguy cơ cháy những ngôi nhà tranh đơn sơ vách đất. Thế nhưng người ta đã nhanh chóng từn ra cách an toàn là đốt lửa trên một bệ đá đặt ở giữa phòng và trổ một lỗ ở mái để thoát khói. Dần dần những chiếc lò sưởi đầu tiên được xây bằng đá và ống khối đã ra đời. Cũng từ đó ngoài cbức năng sưởi ấm, lò sưởi còn được sử dụng như một bộ phận cấu thành của nội thất kiến trúc. Hình 1.69 ống khối đôi bằng đá tại nhà thờ Thánh Osyth Priory, Anh thế      kỷ 16.

Yêu cầu kỹ thuật

Về cơ bản ống khối phải vươn cao ít nhất 0,91m so với điểm cao nhất, nơi mà ống khối xuyên qua mái công trình và cao hơn ít nhất là 0,6lm so với nóc mái bất kỳ trong phạm vi 3,08m. Ông khối phải xây bằng đơn vị khối xây chắc hoặc bê tông cốt thép và lót bằng đất sét chịu lửa hoặc loại đất sét phù hợp khác. Trong các ngôi nhà ở, độ dày tường ông khối có thể là 10,16cm.

Trong các công trình khác, độ dày của ống khối đối với các thiết bị sưởi ít nhất phải là 20,32cm cho gần như cả khôi xây. Độ dày của đá tối thiểu phải là 30,48cm. Lò sưởi phải có các mặt trong và mặt bên bằng khối xây chắc hoặc bê tông cổt thép, có độ dày không dưới 20,32cm. Lớp lót bằng gạch chịu lửa dày ít nhất 5,08cm hoặc cung cấp vật liệu được chấp nhận khác trừ phi độ đày là 30,48cm.

Lò sưởi phải có lòng bằng gạch, đá, gạch lát hoặc vật liệu chịu lửa khác đỡ trên tấm chống lửa hoặc trên các cuốn đỡ khung nhẹ bằng gạch. Các lòng này mở rộng ít nhất 50,8cm ra bên ngoài bệ tường ống khối và không dưới 30,48cm xa mỏi mặt bên khoảng trống lò sưởi dọc bệ tường ống khói. Độ dày kết hợp của lòng và kết cấu chịu lực không dưới 15,24cm. Đổ đầy vật liệu không cháy vào không gian giữa ống khối và các dầm, giữa các xà, hoặc các dầm và bất kỳ vật liệu dễ cháy nào để chắn ỉửa.

Họng lò sưởi không dưới 10,16cm và tốt nhất là 20,32cm ở trên đỉnh khoảng trống lò sưởi. Phải đặt van thông gió kim loại mở rộng toàn bô chiều rộng khoảng trống lò sưởi trong họng lò sưởi. Ông dẫn khối phải có diện tích hữu hiệu bằng 1/12 đến 1/lo diên tích khoảng trống lò sưởi.

Khi xây xong ống khói, ống thông hơi, các mạch phải đầy vữa, bể mặt bên trong ống phải vét vữa cẩn thân, miết phẳng, nhẵn.

Các ống khối có thể không chìa ra quá 15,24cm từ mặt của tường dày trên 30,48cm, và ưong các tường mỏng hơn, không được phép xây phần đua ra, trừ phi có các phần nhố ra ngang bằng trên các mặt đối diện của tường này. Tuy nhiên, trên tầng hai của ngôi nhà ở hai tầng, phần đua ra của ống khối trên mặt ngoài của tường bao có thể bằng độ dày tường này. Trong mọi trường hợp phần đua ra không nhố quá 2,54cm cho mỗi hàng gạch nhố ra. Cần bảo đảm chống dột cho mái tại chân ống khói.

Xây lò sưởi:

Vật liệu xây lò sưởi là gạch đặc mác > 75, vữa xi măng cát vàng (mác lấy theo thiết kế), đất sét béo,... Không được dùng gạch silicát, gạch rỗng vì chúng chịu và giữ nhiệ kém.

Khi xây phải bảo đảm vị trí, hình dáng, kích thước của lò sưởi, phễu thu khói, van điều chính, ngăn khối quẩn, toa khói, ông khói. Ở những chỗ thay dối hướng cần tạo độ cong, độ dốc nhất dịnh để giảm bớt sự cán trở trong quá trình thoát khói.

Chú ý đặt ghi lò đúng vị trí, khoảng cách để không tốn nhiệt và đưa củi vào lò dẻ dàng. Cửa vào củi được xây thu dần từ ngoài vào trong theo hình chóp cụt. Sau khi đặt xong ghi lò thì xây giật cấp luôn (tường lửng xây nghiêng) , xây đến dâu đổ cát mịn đến đó (không có cát, lò sẽ chóng hỏng và làm nóng bệ lò sưởi ảnh hưởng đến sứ dụng sau này).

Khi lò sưởi đặt cường độ cần thiết thì tiến hành ốp gạch chịu lửa.

Mặt sàn trước lò sưởi thường được lát cao hơn nên, bằng vật liệu không cháy thường là hoặc gạch.

altHình 60

Xây ống khói:

Trong những khu bếp của nhà ở gia đình, ống khối thường có tiết diện hình vuông, hình chữ nhật. Đường dẫn khối thường xây theo góc nghiêng, một đầu ăn thông với thân ống khói, đầu kia nôi với bộ phận thu khói.

Khi xây ống khối cần chú ý:

Đảm bảo đúng tiết diện trong của đường dẫn khối và thân ống khói.

Thân ống khối phải thẳng đứng.

Bên trong ống khối phải phẳng, nhẵn, không xù xì, quét hai ba lượt nước xi măng cho nhẵn. Nếu cần phải trát phẳng bên trong thì xây đến đâu trát đến đấy (mỗi đoạn cao 40 - 60cm). Các góc của ống khối nén có độ lượn nhất dịnh.

Ở dưới chân ống khối cần xây thấp xuống một đoạn 25 – 30 cm tạo thành chỗ chứa tro muội, bồ hóng khi sử dụng và chứa vữa rơi khi xây trát. Mũ của ống khối cần đặt chính xác, mũ có tác dụng ngăn nước mưa rơi vào ống khói.

Xây bể chứa nước

Bê chứa nước có loại đặt nổi trên mặt đất, đặt trong đất hoặc nửa ngầm dưới đất.

Do tính năng chịu lạc kéo của khối xây gạch đá tương đối kém nên thường chí dùng gạch đá làm nhưng bể nước có dung tích nhố hoặc những bể chứa nước tạm thời.

Bể nước phải bảo đảm yêu cầu chịu lực và chống thấm. Thành bể nước chịu tác dụng của áp lực bẽn của nước chứa trong bể và của lực nén thẳng đứng đổ trọng lượng bản thân gây ra. Bể nước hình'chữ nhật, dưới tác đụng của áp lực bên, trong thành bể xuất hiện lực đọc trục nằm ngang; ngoài ra còn xuất hiện cả mômen theo chiều thẳng đúng và phương nắm ngang.

Nếu tỷ số chiều cao bể và kích thước dài của mặt bể lớn hơn 2, tải trọng hoàn toàn truyển theo phương ngang. Khi xây chú ý liên kết giữa các thành bể phải bảo đảm các viên giằng và chất lượng của các mạch vữa.

Khi tỷ lệ giữa chiều cao bể và kích thước cạnh ngắn của đáy bể nhỏ hơn 2 nhưng lớn hơn 1/2, thì tải trọng truyền theo hai phương. Khi đó ngoài liên kết giữa các thành bể còn phải chú ý. đến cả liên kết giữa thành và đáy bể và bảo đảm chất lượng của các mạch vữa ngang và đứng.

Khi tỷ số giữa chiều cao bể và kích thước cạnh ngắn đáy bể nhỏ hơn 1/2 thì tải trọng hầu như hoàn toàn truyền theo phương thẳng dứng; chú ý liên kết tốt giữa đáy và thành bể.

Nền bể được gia cố bằng lớp đất trộn vôi đầm chặt; ở giữa bể, lớp đất đó dày nhưng càng về phía mép biên bể thì càng mỏng dần, để phòng ngừa khả nâng đáy bể bị lún trọng tâm đổ trọng lượng nước lớn khiến bể bị nứt.

Bể ngầm tường ngoài tiếp xúc với đất thường được quét từ 2 đến 3 lớp bị tum nóng hoặc trát maớít átphan nguội để chông nước từ bên tìgoài thấm vào bể.

Bể lớn thường có thêm tường ngăn để tâng thêm độ cứng cho bể và tạo ra ngăn lọc nước.

Bể được xây bằng gạch nung mác > 75; gạch chỉ đâc già; cường độ cao, ít thấm nước, gạch được làm sạch, tưới nước kỹ để ráo nước mới xây. Vừa xây thường là vữa xi măng mác > 50, cát dùng làm vữa tốt nhất là cát vàng được sàng kỹ bảo đảm độ mịn cẩn thiết và sạch, trộn đủ dẻo.

Nền được san phẳng, tưới nước, đầm kỹ hoặc được gia cố bằng lớp đất trộn vôi đầm chặt.

Trước khi xây cần đổ lớp bê tông gạch vỡ mác 100 lót đáy bể.

 


Xây đáy bể:

Với bể có dung tích nhỏ. chiều cao không lớn: đáv bê thường được xây bằng gạch, xây theo kiếu xếp gạch chữ công, xây giật lùi không ngồi lên phần đã xây, xây đến đâu chèn kỹ mạch và làm vệ sinh bề mặt gạch đến dó.

Xây thành bể:

Cần tính toán, bố trí đủ số người cần thiết để xây thành bể lên đều, không để mỏ để bảo đảm sự đồng nhất của khối xây. Bể nhỏ, thấp xếp gạch dọc xây theo kiểu chữ công để đảm bảo chống thấm tốt. Mạch vữa dầy lcm phải đặc, no đều. sau khi xây dùng bay chèn kỳ các mạch đặc biệi là mạch đứng. Chú ý khi xây chí dùng tay đicu chinh viên gạch, không dùng dao hoặc bay gõ điêu chỉnh dễ làm lỏng mạch vữa, vữa phải đủ dẻo, khi cần xây mới dáo vữa, dáo vữa đến đâu dùng ngay đến dấy. Xây xong nên che đậy bảo vệ bể chống mưa, nắng hay va chạm. Xây bể được 5 đến 7 ngày có thể tiến hành trát và đánh màu ngay. Trát làm 2 đến 3 lớp theo thiết kế; trát lớp lóí dùng bay miết cho vữa bám chắc vào khối xây, khí lớp vữa mặt đã se. dùng xi măng bột đánh màu ngay.

Khi láng đáy hể chú ý đánh dốc vào rốn bể và vo tròn xung quanh rốn bể, vo tròn 4 cạnh tiếp giáp giữa thành và dáy bể để chống thấm tốt.

Trước khi sử dụng nên tiến hành bơm nước thử, thoạt đầu bơm nước vào từ từ đến 1/3 hay 1/2 chiều cao hể thì dừng lại; ngâm bể 5 đến 7 ngày rồi mới cho nước đầy bể . lại ngâm tiếp một thời gian nữa cho bể lún đều. Sau đó xả nước, cọ sạch bể để kiểm tra lai toàn bộ và xử lý khi có hiện tượng rò rỉ.

Một số sai phạm thường gặp:

Đáy bể bị rạn nứt đổ xử lý nền đáy bể không tốt; đổ láng đáy bể không dùng quy trình kỹ thuật hoặc không che đậy hảo vệ bể nhất là vào những ngày nắng nóng.

Thành bể hay bị rạn nút ngang ở phía ngoài của 4 góc bể đổ vữa xây chất lượng kém, đạc biệt tại chân thành bể nổi.

Bơm nước vào bể quá sớm, bơm nước dẩy ngay một lúc khi bể chưa đạt cường độ cần thiết dẫn đến nứt hoặc vỡ bể.

Không đặt lỗ bay ống thoát nước, không tạo dốc vào rốn bể hoặc không có rốn bể dẫn đến thau rửa be khó khăn.

Xây bể phốt:

Cũng giống như xây bể nước sạch, cần chú ý thêm các điểm sau: Tường ngăn bên trong bể phải được xây đồng thời với vách, không được để mỏ rồimới xây sau. Các phụ kiện bên trong bế như đường ống phải căn cứ theo bản vẽ để xây chặt vào khối xây và dùng vữa trát kỹ. Không được có hiện tượng bị lỏng hoặc bị thấm nước. Các lỗ chờ để thông khí hay lỗ tràn phải được để đủ, đúng vị trí và bảo đảm kích thước thiết kế.

 

 


Xem thêm:

Vật liệu hoàn thiện                    Thiết bị                            Vật liệu xây dựng

Thi công                                    Nguyên lý thiết kế            Cấu tạo kiến trúc

Màu sắc                                     Phong cách kiến trúc       Vật dụng